VP & PARTNERS  CONSULTANT

HƯỚNG DẪN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI NGUYÊN LIỆU MÙN CƯA, DĂM BÀO, BỘT GỖ VÀ SẢN PHẨM ÉP KHỐI TỪ GỖ

Nguồn: Công văn số 10596/DON-QLDN2 ngày 15 tháng 06 năm 2026 của Thuế thành phố Đồng Nai V/v chính sách thuế GTGT
                                                                                 Kính gửi: Công ty TNHH Hoàng Đại Vương
                                                                                 Địa chỉ: Đường D2, Cụm Công Nghiệp Hố Nai 3, Phường Hố Nai, TP Đồng Nai
                                                                                
Thuế thành phố Đồng Nai nhận được văn bản số 07/2026/CV-HDV ngày 26/02/2026 của Công ty TNHH Hoàng Đại Vương (sau đây gọi là Công ty) về việc đề nghị hướng dẫn thuế GTGT đối với nguyên liệu mùn cưa, dăm bào, bột gỗ và sản phẩm ép khối từ gỗ. Về vấn đề này, Thuế thành phố Đồng Nai có ý kiến như sau:
- Căn cứ Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 149/2025/QH15):
  - Tại khoản 1 Điều 5 quy định đối tượng không chịu thuế như sau:
 “1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
 + Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bản cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào."

  - Tại điểm d khoản 2 Điều 9 quy định thuế suất 5% như sau:
 "d) Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này; "
  - Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10% như sau:
  "3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số."
  - Tại khoản 5 Điều 9 quy định như sau:
  "5. Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó."
- Căn cứ Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ): 
 - Tại khoản 1 Điều 4 quy định đối tượng không chịu thuế như sau:
  "1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mành, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cản mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khi sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.
  + Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp đề xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đảnh bắt bản ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
  1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tỉnh nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
   Trong đó:
    a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bản sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thưởng cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tỉnh nộp thuế giá trị gia tăng.
    b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giả trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bản sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tỉnh thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.
    c) Hộ, cả nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỉnh trực tiếp khi bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đảnh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá trị gia tăng phải nộp theo doanh thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với doanh thu."

  - Tại khoản 3 Điều 19 quy định thuế suất 5% như sau:
  "3. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này."
- Căn cứ hướng dẫn tại điểm c khoản 1 Điều 20 Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT ngày 31/12/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường bổ sung khoản 15 vào sau khoản 14 Điều 3 Thông tư số 26/2025/TT-BNNMT:
 "15. Gỗ sơ chế thông thường là gỗ sau khai thác, được xử lý qua các công đoạn chế biến ban đầu (cắt, cưa, xẻ, ché, bóc ván hoặc lạng ván, băm, nghiền) nhưng chưa làm thay đổi bản chất gỗ, nhằm tạo nguyên liệu hoặc bản thành phẩm phục vụ cho các công đoạn chế biến, sản xuất sản phẩm gỗ, kinh doanh tiếp theo hoặc tạo thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu kho, bảo quản. Gỗ sơ chế thông thường bao gồm: gỗ xẻ thô, gỗ đèo hộp mà bề mặt còn thô nhám, chưa qua công đoạn bào trơn hoặc xử lý hoàn thiện; gỗ bóc hoặc gỗ lạng chưa được ép thành ván ép hoặc các loại ván công nghiệp khác; dăm gỗ (dăm mảnh, dăm nghiền) và phụ phẩm gỗ phát sinh trong quá trình chế biến như: mùn cưa, vó cây, đầu mẫu, bìa bắp và dăm bào."
- Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 4582/BTC-CST ngày 13/4/2026 của Bộ Tài chính v/v chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường.
- Căn cứ hướng dẫn tại công văn số 3546/CT-CS ngày 29/05/2026 của Cục Thuế v/v chính sách thuế GTGT đối với gỗ sơ chế thông thường
Căn cứ các quy định trên, từ ngày 01/01/2026:
Trường hợp sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường theo quy định của pháp luật thì
- Sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường do tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tỉnh nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
- Căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 9 Luật Thuế GTGT và khoản 3 Điều 19 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 10% quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT.
Trường hợp sản phẩm gỗ đầu ra của Công ty đã chế biến thành sản phẩm khác và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP và Thông tư số 84/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thì tỉnh thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 10% quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT.
Thuế thành phố Đồng Nai thông báo để Công ty được biết và thực hiện đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật./.

 

VP&PARTNERS TAX AGENT

VP1: 54/132 Vũ Huy Tấn, Phường Gia Định, TP Hồ Chí Minh.
VP2: 175/6 khu phố Bình Phú, Phường Thuận Giao, TP Hồ Chí Minh.
VP3: 2903 Bùi Lâm, Phường Bà Rịa, TP Hồ Chí Minh.