VP & PARTNERS  CONSULTANT

QUY ĐỊNH VỀ KHẤU TRỪ THUẾ GTGT TRƯỜNG HỢP HÀNG HÓA CHO MƯỢN VÀ TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG VÀNG LÀM QUÀ KHUYẾN MÃI

Nguồn: Công văn Số 24-28/CTBDU-TTHT ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Cục thuế tỉnh Bình Dương V/v chính sách thuế
Kính gửi: CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT GỖ AN CƯỜNG
Địa chỉ: 702/1K Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
Mã số thuế: 3702601462

 

Cục Thuế tỉnh Bình Dương nhận được công văn số 404-2024/CV-SXGAC ngày 30/9/2024 của CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT GỖ AN CƯỜNG (viết tắt “Công ty”) về việc chính sách thuế. Qua nội dung công văn của Công ty, Cục Thuế có ý kiến như sau:
- Căn cứ Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 05 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại như sau:
+ Tại Điều 5 quy định về hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để  khuyến mại.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 1 năm 2020 của Chính phủ quy định nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ như sau:
“1. Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn để giao cho người mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cảo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa) và phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định tại Điều 10 Nghị định này, trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử thì phải theo định dạng chuẩn dữ liệu của cơ quan thuế theo quy định tại Điều 12 Nghị định này. "
- Căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính như sau:
+Tại Khoản 3 Điều 7 quy định về giá tính thuế:
“3. Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ (kể cả mua ngoài hoặc do cơ sở kinh doanh tự sản xuất) dùng để trao đổi, biếu, tặng, cho, trả thay lương, là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.”
+ Tại Khoản 1 Điều 15 quy định về điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào:
“1. Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.”
+ Tại điểm a Khoản 4 Điều 15 quy định các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
“a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bản ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bà trừ công nợ của ba (3) bên làm căn cứ khấu trừ thuế. "
- Căn cứ Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/06/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC):
“Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên ghi trên hóa đơn mà đến thời điểm ghi nhận chi phí, doanh nghiệp chưa thanh toán thì doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp khi thanh toán doanh nghiệp không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh khoản chi phí này)...”


Căn cứ quy định nêu trên, theo nội dung trình bày tại văn bản, Cục Thuế trả lời về mặt nguyên tắc cho Công ty như sau:
Về nội dung vướng mắc thứ nhất:
Trường hợp Công ty nhận hoá đơn GTGT đầu vào của hàng hoá cho mượn thì Công ty căn cứ điều kiện khấu trừ thuế GTGT trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định tại điểm a Khoản 4 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.
Trường hợp Công ty mượn máy của bên đối tác để sản xuất hàng hoá, bên đối tác đã lập hoá đơn cho mượn theo quy định thì khi Công ty hoàn trả cho bên đối tác, Công ty lập hoá đơn để hoàn trả theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP. Giá tính thuế được xác định theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.
Về nội dung vướng mắc thứ hai:
Trường hợp Công ty có kế hoạch sử dụng vàng để khuyến mại thì Công ty rà soát Điều 5 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định về hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại, dùng để khuyến mại.
Trường hợp Công ty mua vàng để thực hiện chương trình khuyến mại nếu đáp ứng điều kiện về khấu trừ thuế GTGT theo quy định tại Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC thì được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp Công ty lập hoá đơn khuyến mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP thì giá tính thuế GTGT thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư số 219/2013/TT-BTC.
Trường hợp Công ty ký hợp đồng với đối tác để thực hiện chương trình khuyến mại dành cho khách hàng (tặng voucher) đúng theo quy định về pháp luật thương mại thì Công ty không phải lập hóa đơn và kê khai thuế GTGT mà áp dụng lập chứng từ thu/chi. Khi khách hàng sử dụng voucher để mua hàng hóa, dịch vụ thì nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ lập hóa đơn GTGT và kê khai thuế GTGT theo quy định.
Các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của Công ty đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính thì các khoản chỉ đó được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Về nội dung vướng mắc thứ ba:
Trường hợp Công ty có khoản lãi tiền gửi có kỳ hạn/không kỳ hạn tại ngân hàng thương mại thì khi nhận lãi tiền gửi, Công ty không lập hoá đơn do không thuộc các đối tượng phải lập hoá đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP.
Đề nghị Công ty căn cứ thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện theo quy định.
Trên đây là ý kiến của Cục Thuế tỉnh Bình Dương trả lời Công ty biết để thực hiện./.

 

VP&PARTNERS TAX AGENT

VP 1: 54/132 Vũ Huy Tấn, Phường 03, Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
VP 2: 61/1 Đường số 23, P. Hiệp Bình Chánh, Tp. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh